Cuộc đời và sự nghiệp của lương y Hồ Đắc Di

Giáo sư Bác sĩ Hồ Đắc Di (11 tháng 5 năm 1900-1984), sinh ra tại Hà Tĩnh, quê ở làng An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huệ, là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị lớn. Ông còn là vị hiệu trưởng đâu tiên của trường Đại Học Y khoa của nước Việt Nam độc lập

Giáo sư Hồ Đắc Di sinh năm 1900, đại biểu Quốc hội các khóa 2 đến 5, ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội các khóa 2,3,4, Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội, Tổng giám đóc Đại Học vụ Việt Nam, Giám đốc Vụ Đại Học Và Trung Học chuyên nghiệp, Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước,Chủ tich Tổng hội Y học Việt Nam, Huân chương Độc lập hạng nhất và hạng ba, Huân chương Lao động hạng nhất và hạng hai, Huy chương vì thế hệ trẻ, Chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1952 và 1956. Giáo sư Hồ Đắc Di đã được tặng Giải Thưởng Hồ Chí Minh. GS. từ trần ngày 25-6-1984.

Hồ Đắc Di

Ảnh: Lương y Hồ Đắc Di

Ông là nhà giải phẫu thuật đầu tiên, xứng đáng là bậc thầy đầu tiên với các công trình mở đường cho những hướng nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo sư người Việt đầu tiên.

Giáo sư là người bác sĩ y khoa đầu tiên, người sáng lập Trường đại học Y Hà Nội và làm chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam từ ngày thành lập tới 1984. Năm 1918, Giáo sư sang học tại Pháp và trở thành trợ giáo trường Đại học Y Khoa Paris. Trong thời gian ở Pháp, được tiếp xúc với đồng chí Nguyễn Ái Quốc và một số trí thức Việt Nam yêu nước khác, Giáo sư đã cảm thấy nỗi đau đớn tủi nhục của nhân dân mất nước và muốn đem khả năng của mình để phục vụ đồng bào. Trở về Tổ quốc, Giáo sư làm bác sỹ phẫu thuật tại bệnh viện Huế và Phủ Doãn. Sau cách mạng tháng  Tám, Giáo sư được chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính Phủ giao nhiều trọng trách: Tổng thanh tra y tế, Tổng giám đốc Đại học vụ, Hiệu trưởng trường Đại học Y – Dược khoa và nhiều chức vụ quan trọng khác. Tuy bản thân tham gia công tác lãnh đạo, Giáo sư vẫn tiếp tục công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học…

Cuộc đời và tác phẩm của GS. Hồ Đắc Di

Giáo sư là một người nhân hậu, vị tha, yêu nước, trọn đời hiến dâng cho cách mạng và chủ nghĩa xã hội, là một nhà y  học và thầy giáo mẫu mực.

Theo lời khuyên của bác sĩ Thiroux, ngự y của triều đình Huế, gia đình đã chọn nghề y cho Hồ Đắc Di và đưa sang Pháp du học (1918-1932). Đầu tiên, anh đến bệnh viện Cochin, học ở bệnh khoa của giáo sư Ferdinand Widal, lúc này đang là niềm tự hào của y học lâm sàng nước Pháp.

Đỗ bác sĩ nội trú, Hồ Đắc Di làm phẫu thuật một thời gian ở bệnh viện Tenon, rồi về nước. Những mong đem trí thức khoa học cứu chữa đồng bào, nhưng khi anh về bệnh viện Huế, thực dân Pháp chỉ cho a làm bác sĩ tập sự, sau bị đuổi về Quy Nhơn.

Lúc này ở bệnh viện Phủ Doãn, và cả Đông Dương chỉ có hai bác sĩ người Pháp là Leroy des Barres (Hiệu trưởng trường Đại Học Y Hà Nội) và Cartoux độc quyền phãu thuật. Là giảng viên Đại học Y, Bác sĩ Hồ Đắc Di đấu tranh mãi mới được mổ xẻ. Hồi ở Paris, Hồ Đắc Di đã được gặp nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở Hội sinh viên và cùng sinh viên đi bán báo Le Paria cho quần chúng lao động.

Làm việc dưới quyền bọn thực dân, bác sĩ Hồ Đắc Di thấy uất ức và tủi nhục: “Là thầy thuốc mà tôi như một người bệnh: người bệnh về tâm hồn”.

Nhà trí thức yêu nước đón mừng Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhận thức: “…Tất cả những ai trải qua những ngày nhằn nhọc, day dứt về lương tâm dưới chế độ cũ ắt sẽ lao vào cơn lốc của cách mạng, mỗi khi ánh lửa của nó rọi sáng tâm hồn. Đối với những người trí thức cũ thì sự đổi đời bắt đầu từ sự chọn lựa nơi mà lương tâm mình được yên ổn nhất” (Hồi ký)

Sau cách mạng tháng 8-1945, giáo sư Hồ Đắc Di gánh vác nhiều trọng trách như Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, giam đốc bệnh viện Đồn Thủy, Tổng thanh tra y tế, Tổng Giám đốc Đại học vụ. Và khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, giáo sư cùng gia đình tản cư rời khỏi thủ đô.

Ngày 6-10-1947, Trường Đại học Y kháng chiến khai giảng tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, trường có hai giáo sư và 11 sinh viên xung phong. Một ngày sau lễ khai giảng, Pháp nhảy dù Bắc Cạn,đốt nhà giáo sư, vác loa gọi đích danh: “Bác sĩ Di, Bác sĩ Tùng về làm việc với chính phủ Pháp, sẽ được trọng đãi”. Nhưng giáo sư kiên quyết: “Chết thì chết, không để bọn pháp bắt lại”.

Giáo sư thuộc lớp những bác sĩ đầu tiên của trường Đại học Y dưới chế độ mới. GS. là chủ tịch đầu tiên của Tổng hội Y học Việt Nam và đương nhiệm cho đến khi qua đời, năm 1984.

Di sản khoa học quý giá của GS bao gồm mấy chục tiểu luận, diễn văn, bài giảng, lời phát biểu, Trường Đại học Y Hà Nội tập trung thành mấy tập để lưu, một số ít bài đã cho đăng báo.

Trong kháng chiến trống Pháp, giáo sư đã trước tác những công trình có giá trị khoa học và tư tưởng như: Diễn văn của tổng Giám đốc Đại học vụ ngày khai giảng trường đại học năm 1947, Bàn về văn hóa và tinh thần khoa học (30-11-1948); Diễn văn trong lễ khai mạc hội nghị y tế toàn quốc (1949); Bài giảng sinh học và bệnh học đại cương (5-1950).

Trở về Hà Nội, giáo sư biên soạn:Y học dưới ánh sáng chủ nghĩa duy vật biện chứng (1956), Bàn về học, v.v….Đó là những công trình tổng luận dài 20-30 trang, viết rất tinh, ý hàm súc, lời bóng bảy, hùng biện và gợi cảm, giàu thông tin; tư tưởng rất khái quát, với những danh ngôn chọn lọc; có bình luận chặt chẽ. Tác giả đọc rộng biết nhiều, nhưng chỉ viết ít điều nghiền ngẫm từ lâu, nhuần nhuyễn thành chính kiến độc đáo của riêng mình. Vì thế, toàn bộ các tác phẩm của Hồ Đắc Di đều toát lên một dong tư tưởng nhất quán, rất đặc sắc, trong những lời bình chính trị giàu lòng yêu nước cũng như bình luận đàm học thuật.

Những thành tích nghiên cứu khoa học và đào tạo

Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Paris, Giáo sư Hồ Đắc Di là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày với tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn, được mang tên ông, được nhiều sách giáo khoa công nhận giá trị trong suốt 30-40 năm.

Các công trình khoa học sau này của GS.Hồ Đắc Di (từ năm 1937-1945) thường đứng tên chung với đồng nghiệp, với cộng sự và học trò với nội dung giải quyết các  bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và lạc hậu. Viêm tụy có phù cấp tính do ông phát hiện từ 1937 đã mở đường cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng vào những năm sau. Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn cũng có đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật, hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa.

Với 21 công trình hiện tìm được 37 công trình đã công bố, GS Hồ Di Đắc là nhà phẫu thuật đầu tiên xứng đáng là bậc thầy đầu tiên với các công trình mở đường cho những nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo viên người Việt đầu tiên.

Trong kháng chiến chống pháp, Giáo sư  cùng học trò của mình – Bác sĩ Tôn Thất Tùng, đã có một quyết tâmvaf một quyết định lịch sử mà đất nước nhớ ơn: duy trì và phát triển trường Đại học Y – Dược khoa nhằm trực tiếp đáp ứng nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến: đó là cung cấp cho nhân dân và quân đội một đội ngũ cán bộ y tế  có trình độ cao, với số lượng gấp bốn lần tổng số bác sỹ mà ta có, khi bước vào cuộc kháng chiến này.

Nguồn: Tạp chí y học cổ truyền

Bình Luận